HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 8 SỬ DỤNG ĐỊNH LÝ BEZOUT ĐỂ GIẢI TỐT HƠN CÁC BÀI TOÁN VỀ TÌM ĐA THỨC DƯ CŨNG NHƯ TÌM ĐA THỨC BỊ CHIA TRONG BÀI TOÁN CHIA ĐA THỨC

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Bối cảnh của giải pháp

Là một giáo viên dạy toán ở trường Trung học cơ sở tôi luôn suy nghĩ để làm sao kiến thức truyền đạt đến các em một cách đơn giản, dễ hiểu giúp các em có những kiến thức cơ bản, vững vàng, tạo điều kiện cho các em yêu thích môn toán, tránh cho các em có suy nghĩ môn toán là môn học khô khan và khó tiếp cận.

Tuy nhiên, trong thời đại công nghệ hiện nay, các em được tiếp xúc với nhiều phương tiện truyền thông hiện đại, mạng xã hội, làm ảnh hưởng đến việc học của các em. Hơn nữa, hầu hết các em học sinh trường tôi là con em công nhân, cha mẹ bận rộn công việc công ty, nhiều gia đình không có thời gian quan tâm đến việc học của các em, dẫn đến tình hình học tập của các em ngày càng xa sút, chán học. Nhiều em bị mất căn bản từ lớp dưới, lên lớp 8, tâm sinh lí thay đổi, đua đòi bạn bè, nên các em không tập trung cho việc học. Các kĩ năng tính toán, cộng, trừ, nhân, chia đa thức, phân thức, ... của các em còn yếu. Từ đó các em có tâm lí sợ và ngại học môn toán nói chung, phần chia đa thức nói riêng.

2. Lý do chọn giải pháp

Đa thức là một trong những khái niệm trung tâm của toán học. Trong chương trình toán trung học cơ sở chúng ta đã làm quen với khái niệm đa thức từ những phép cộng, trừ, nhân đa thức đến phân tích đa thức thành nhân tử, chia đa thức, giải các phương trình đại số… Thực tế qua giảng dạy ở trường Trung học cơ sở tôi nhận thấy bên cạnh số đông học sinh học rất tốt về toán, các em vững kiến thức giải thành thạo các bài toán ở sách giáo khoa, còn giải được các bài toán dạng nâng cao. Nhưng vẫn còn một số em học toán còn chậm, tiếp thu kiến thức còn hạn chế, khi thực hành tính toán còn nhầm lẫn, không chính xác. Khi thực hiện việc chia đa thức cho đa thức còn chậm chạp, tìm thương không chính xác.

Vì vậy, tôi luôn đặt ra câu hỏi là làm thế nào để học sinh có thể giải các bài toán về đa thức, đặc biệt là các bài toán về phép chia đa thức được dễ dàng hơn ? Giúp tạo ra sự tự tin, hứng thú cho các em trong học tập ? Đó chính là lý do tôi chọn đề tài này: “Hướng dẫn học sinh lớp 8 sử dụng định lí BeZout để giải tốt hơn các bài toán về tìm đa thức dư cũng như đa thức bị chia trong bài toán chia đa thức ”

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1. Phạm vi nghiên cứu

Nội dung chương trình Toán Trung học cơ sở mà chủ yếu là chương trình lớp 8.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

- Phương pháp tìm đa thức dư, đa thức bị chia trong bài toán chia đa thức bằng cách sử dụng định lí BeZout.

- Tiết toán của học sinh lớp 8 trường Trung học cơ sở Phước Thiền.

4. Mục đích nghiên cứu

- Trong vài năm trở lại đây ở các đề thi tuyển học sinh giỏi lớp 8, cũng như các bài toán thi vào các trường Trung học phổ thông chuyên trên cả nước xuất hiện nhiều bài toán tìm đa thức dư cũng như đa thức bị chia trong phép chia đa thức, trong khi đó nội dung và thời lượng về phần này trong sách giáo khoa lại ít, lượng bài tập chưa đa dạng, phong phú. Vì vậy chưa đáp ứng đủ những yêu cầu của học sinh. Do vậy trong quá trình làm bài tập, trong thi cử khi gặp các bài toán dạng này các em thường lúng túng, khó giải quyết. Nhằm mục đích bổ sung, nâng cao kiến thức về phần xác định đa thức trong bài toán phép chia đa thức cho các em học sinh . Từ đó các em có thể làm tốt các bài toán liên quan đến dạng này thông qua các bài ôn luyện cũng như trong các kỳ thi tuyển.

- Mặt khác nhằm kích thích, giúp các em biết cách tìm và hiểu kiến thức nhiều hơn nữa, không chỉ các bài toán vận dụng phép chia đa thức mà cả các dạng toán khác.

- Phát triển năng lực tự học, biết liên kết và mở rộng các bài toán từ đó giúp các em hình thành phương pháp giải.

- Giúp học sinh hứng thú hơn trong học tập đặc biệt là học sinh giỏi.

PHẦN NỘI DUNG

I. THỰC TRẠNG CỦA GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT, ĐÃ CÓ

1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Mục tiêu của giáo dục Trung học cơ sở theo điều 23 Luật giáo dục là “Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu học, có trình độ học vấn Trung học cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật và hướng nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”.

Để thực hiện mục tiêu trên, nội dung chương trình Trung học cơ sở mới được thiết kế theo hướng giảm tính lý thuyết , tăng tính thực tiễn, thực hành bảo đảm vừa sức, khả thi, giảm số tiết học trên lớp, tăng thời gian tự học và hoạt động ngoại khóa.

Trong chương trình lớp 8, học sinh được học 4 tiết về phép chia đa thức, trong đó có: 3 tiết lý thuyết, 1 tiết luyện tập

Theo chương trình trên, học sinh được học về phép chia đa thức nhưng không có nhiều tiết học đi sâu khai thác các ứng dụng của phép chia đa thức nên các em nắm và vận dụng phép chia đa thức chưa linh hoạt. Là giáo viên ta cần phải bồi dưỡng và hướng dẫn học sinh tự học thêm kiến thức phần này.

1.2.Thực trạng

1.2.1.Thuận lợi

- Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Ban giám hiệu nhà trường.

- Được sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng chí đồng nghiệp.

- Nhà trường có đầy đủ phương tiện trang thiết bị phục vụ cho dạy học.

- Đa số các em học sinh ngoan, lễ phép một số em tỏ ra thích học môn toán, và có năng khiếu về bộ môn toán.

-Đa số học sinh khá, giỏi đều mong muốn được nâng cao kiến thức.

1.2.2. Khó khăn

-Thời lượng phân bố tiết cho phần này còn hạn chế, cụ thể ở chương trình lớp 8 có 4 tiết ( 3 tiết lý thuyết, 1 tiết luyện tập). Do vậy chưa khai thác hết các bài tập về phép chia đa thức.

-Hầu hết số học sinh của trường là con em công nhân. Do đó điều kiện học tập của các em đa số còn hạn chế.

-Trước khi chưa vận dụng đề tài vào dạy học môn Toán 8 tôi đã khảo sát chất lượng học môn toán của hai lớp 8/5, 8/6 của năm học 2018-2019. Kết quả thu được như sau:

Lớp

Sĩ số

Giỏi

Khá

TB

Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

8/5

42

5

11,9

13

30,9

12

28,6

12

28,6

8/6

44

6

13,6

11

25

14

31,8

13

29,6

Từ những thuận lợi và khó khăn trên, với đề tài này tôi mong muốn sẽ giúp các em có thêm kiến thức để tự tin hơn trong việc giải quyết các bài tập phần này cũng như các kỳ thi tuyển sau này.

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN

2.1. Tóm tắt lý thuyết

2.1.1. Định nghĩa về phép chia đa thức

+ Phép chia đa thức f(x) cho đa thức g(x) ( Với g(x) khác đa thức 0) ta được thương và dư lần lượt là những đa thức q(x), r(x). Khi đó ta viết được:

f(x)= g(x).q(x)+ r(x) với điều kiện bậc của r(x) bé hơn bậc của q(x)

Khi đó ta nói f(x) chia cho g(x) được thương là g(x) và dư là r(x).

+ Trường hợp nếu đa thức r(x) là đa thức 0, ta được:

f(x)= g(x). q(x)

Và khi đó ta nói đa thức f(x) chia hết cho đa thức g(x)

2.1.2. Định lý Bezout

+ Số dư trong phép chia đa thức f(x) cho đa thức x-a là giá trị f(a).

+ Hệ quả: Nếu a là nghiệm của đa thức f(x) khi và chỉ khi f(x) chia hết cho đa thức x- a

2.2. Tổ chức thực hiện;

2.2.1. Dạng toán tìm số dư của một đa thức cho một đa thức bậc nhất

+Ví dụ 1: Tìm số dư của phép chia đa thức f(x) = x2- 2x+5 cho đa thức g(x) = x-3

Cách 1: Sử dụng phép chia thông thường ta được:

x2- 2x+5 x-3

*
x2- 3x x+1

x + 5

x - 3

8

Vậy số dư phải tìm là 8

Cách 2: Sử dụng định lý BEZOUT ta được số dư của phép chia đa thức f(x) = x2- 2x+5 cho đa thức g(x) = x-3 là giá trị f(3) ta được

f(3) = 32- 2.3+5=8

Vậy số dư phải tìm là 8

Nhận xét: Đây là một dạng bài toán đơn giản của phần toán này cho nên chúng ta chỉ mới thấy được phương pháp sử dụng định lý BEZOUT cho chúng ta cách tính dễ dàng hơn.

Bài tập tự luyện:

Tìm số dư của các phép chia sau:

1. Chia đa thức x2- 6x+12 cho đa thức x-7;

2. Chia đa thức x2- 10x+5 cho đa thức x+3;

3. Chia đa thức 3x2+2x-75 cho đa thức x-4;

4. Chia đa thức 5x2 + 12x-17 cho đa thức 3x+3;

5. Chia đa thức -2x2- 2x+9 cho đa thức 4x+3.

2.2.2. Dạng toán tìm một hằng số của đa thức bị chia khi biết đa thức chia và đa thức dư trong bài toán chia đa thức cho một nhị thức.

+ Ví dụ 1: Tìm a biết đa thức f(x) = x2 -7x+ a chia hết đa thức x+3.

Cách 1: Sử dụng phép chia thông thường:

x2- 7x+a x+3

x2+ 3x x-10

-10x+a

-10x-30

a +30

Vì phép chia là phép chia hết nên đa thức dư là đa thức 0 nên:

a+30=0 hay a=-30

Vậy a= -30 là giá trị cần tìm.

Cách 2: Sử dụng định lý BEZOUT:

Vì phép chia là phép chia hết nên theo định lý BEZOUT ta có:

f(-3)=0 mà f(-3)= (-3)2 -7(-3)+ a= 30+a

30+a=0

a=-30

Vậy a=-30 là giá trị cần tìm.

+ Ví dụ 2: Tìm a biết đa thức f(x) = x2 -ax+ 10 chia hết đa thức x-2.

Cách 1: Sử dụng phép chia thông thường

x2- ax+10 x-2

x2 -2x x+2-a

(2-a)x+10

(2-a)x+2a-4

-2a+14

Do phép chia là phép chia hết nên đa thức dư phải là đa thức 0 do đó ta có: -2a+14=0 a=7

Vậy a=7 là giá trị cần tìm.

Cách 2: Sử dụng định lý BEZOUT.

Vì phép chia là phép chia hết nên theo định lý BEZOUT ta có:

f(2)= 0, mà f(2)= 22 –a.2+ 10= -2a+14

-2a+14=0

a=7.

Vậy a=7 là giá trị cần tìm

Nhận xét 1: Với 2 ví dụ trên ta thấy nếu hằng số cần tìm thuộc hệ số của hạng tử có bậc cao hơn trong đa thức bị chia thì với cách 1 sẽ thực hiện khó khăn hơn còn với cách 2 là cách sử dụng định lý BEZOUT thì dù hằng số đó có nằm ở hệ số của hạng tử nào thì cách làm vẫn như vậy. Để làm rõ vấn đề này ta sẽ tìm hiểu ví dụ 3 như sau:

Ví dụ 3: Tìm hằng số a biết đa thức f(x) = ax4 - 1 chia hết đa thức x+2.

Cách 1: Thực hiện phép chia thông thường.

*
ax4 – 1 x+2

ax4 +2a x3 ax3 -2ax2+ 4ax-8a

-2a x3 – 1

*
-2ax3-4ax2

4ax2 -1

4ax2 + 8ax

-8ax -1

-8ax-16a

*
16a-1

Vì phép chia là phép chia hết nên đa thức dư là đa thức 0 hay 16a-1=0

a=1/16

Vậy a=1/16 là giá trị cần tìm.

Cách 2: Sử dụng định lý BEZOUT

Vì f(x) chia hết cho x+2 nên f(-2)=0 a.24-1=0 16a-1=0 a=1/16

Vậy a=1/16 là giá trị cần tìm

Nhận xét 2: Qua ví dụ trên ta thấy phương pháp sử dụng định lý BEZOUT là ưu việt hơn nhiều so với phương pháp chia thông thường, do đó trong các bài mà có thể sử dụng định lý BEZOUT ta sẽ hướng dẫn học sinh giải theo phương pháp này.

+ Ví dụ 4: Tìm hằng số a sao cho đa thức f(x) = x4 + 7x3 + 2x2 + 13x + a chia hết cho đa thức x + 6

Giải

Vì f(x) = x4 + 7x3 + 2x2 + 13x + a chia hết cho x + 6

f(-6) = 0

(-6)4 + 7.(-6)3 + 2.(-6)2 + 13.(-6) + a = 0

a = 222

Vậy a = 222

+ Ví dụ 5:Tìm hằng số a sao cho khi chia đa thức f(x) = x2 + 4x- a cho đa thức g(x) = x-2 thì được dư là -10

Giải

Theo định lý BEZOUT do đa thức f(x) = x2 + 4x- a khi chia cho đa thức g(x) = x-2 thì được dư là -10 nên ta có f(2)= -10 f(2)= 22+4.2-a=0 12-a=0 a=12

Vậy a=12 là giá trị cần tìm.

+ Ví dụ 6: Tìm hằng số a sao cho khi chia đa thức f(x) = 3x6- 4x4 +5ax2-7 khi chia cho đa thức g(x) = x2-3 thì được dư là 20

Giải

Ở bài này thoạt nhìn chúng ta thấy để giải quyết được bài này chúng ta phải thực hiện phương pháp thực hiện phép chia thông thường, tuy nhiên nếu chúng ta hướng dẫn học sinh đặt ẩn phụ thì chúng ta vẫn có thể dùng định lý BEZOUT để giải quyết bài toán một cách dễ dàng hơn.

Đặt x2= t bài toán trở về: Tìm hằng số a sao cho khi chia đa thức f(t) = 3t3-4t2 +5at-7 khi chia cho đa thức g(t) = t-3 thì được dư là 20

Do f(t) = 3t3-4t2 +5t-7 khi chia cho đa thức g(t) = t-3 thì được dư là 20 nên ta có f(3) =20 f(3)= 3.33-4.32 +5a.3-7= 81-36+ 15a-7=20

18+15a=0

a=-18/15

Vậy a=-18/15 là giá trị cần tìm.

Bài tập tự luyện:

Bài 1: Tìm số dư của các phép chia sau:

a) (6x2 + 13x - 5) : (2x + 5); b) (x3 - 3x2 + x - 3) : (x - 3);

c) (x3 - 7x + 3 - x2) : (x - 3); d ) (2x3 - 5x2 + 6x - 15) : (2x - 5);

e) (x4 - x - 14) : (x - 2). f) (6x3 - 2x2 - 9x + 3) : (3x - 1);

Bài 2: Tìm các hằng số a sao cho:

a) 10x2 - 7x + a chia hết cho 2x - 3;

b) 2x2 + ax + 1 chia cho x - 3 dư 4;

c) ax5 + 5x4 - 9 chia hết cho x - 1.

d) 7x8-31x4+ 2x2-6 chia cho x2+4 dư 2018

2.2.3. Dạng toán tìm hai hằng số của đa thức bị chia khi biết đa thức chia và đa thức dư trong bài toán chia đa thức cho một đa thức bậc hai có hai nghiệm.

+Ví dụ 1: Tìm các hằng số a, b sao cho khi chia đa thức f(x)= x4- ax3+b chia hết cho đa thức g(x)= x2-4

*
Cách 1: Sử dụng định nghĩa phép chia hết là phép chia có đa thức dư là đa thức 0 ( Đa thức 0 là đa thức có tất cả các hệ số bằng 0). Ta thực hiện phép chia như sau:

*
x4- ax3 + b x2-4

*
x4 -4x2 x2 –ax +4

-ax3+ 4x2 +b

-ax3 +4ax

4x2-4ax+b

*
4x2 -16

-2ax+b+16

Vì phép chia là phép chia hết nên đa thức dư phải là đa thức 0 nghĩa là

-2a=0 và b+16=0 a=0 và b=-16

Vậy với a=0 và b=-16 thì đa thức f(x) = x4- ax3+b chia hết cho đa thức g(x)= x2-4

Cách 2: Sử dụng định lý BEZOUT

Vì g(x)=x2-4=(x-2)(x+2) nên g(x) có hai nghiệm là x=2 và x=-2

Gọi đa thức thương là Q(x) khi đó ta có:

f(x)=g(x). Q(x) hay f(x) = x4- ax3+b = (x-2)(x+2).Q(x)

-Xét tại x=2 ta có: f(2)= 24-a.23+b= (2-2)(2+2). Q(2)

f(2)=16-a.8+b= 0.4. Q(2)=0

-8a+b=-16 (1)

-Xét tại x=-2 ta có: f(-2)= (-2)4-a.(-2)3+b= (-2-2)(-2+2). Q(-2)

f(-2)= 16+8a+b= -4.0. Q(-2)=0

8a+b=-16 (2)

Cộng vế với vế của (1) và (2) cho nhau ta được:

-8a+b +8a+ b=-16 +(-16)

2b=-32

b=-16

Thay b=-16 vào (1) ta có:

-8a+(-16)=-16

-8a=0

a=0

Vậy với a=0 và b=-16 thì đa thức f(x) = x4- ax3+b chia hết cho đa thức g(x)= x2-4.

Ví dụ 2: Xác định các hằng số a, b sao cho đa thức x4 - 3x3 + 2x2 - ax + b chia hết cho đa thức x2 - x - 2.

GIẢI

Trước tiên với bài này chúng ta phải tìm nghiệm của đa thức x2 - x – 2 bằng cách phân tích đa thức thành nhân tử như sau:

x2 - x – 2= x2 + x -2x – 2= x(x+1)-2(x+1)=(x+1)(x-2) Vậy đa thức chia có hai nghiệm là x=-1; x=2.

Gọi đa thức thương là Q(x) khi đó ta có:

x4 - 3x3 + 2x2 - ax + b= (x+1)(x-2). Q(x)

- Tại x=-1 ta được:

(-1)4-3.(-1)3+2(-1)2-a.(-1)+b=(-1+1)(-1-2). Q(-1)

1+3+2+a+b= 0.(-3).Q(-1)

6+ a+b=0

a+b=-6 (1)

- Tại x=2 ta được:

24-3.23+2.22-a.2+b=(2+1)(2-2).Q(2)

16-24+8-2a+b=3.0. Q(2)

-2a+b=0 (2)

Trừ vế với vế của (1) và (2) cho nhau ta được:

3a=-6

a=-2

Thay a=-2 vào (1) ta được -2+b=-6 b=-4.

Vậy với a=-2; b=-4 thì cho đa thức f(x)= x4 - 3x3 + 2x2 - ax + b chia hết cho đa thức x2 - x - 2.

Nhận xét: Với bài toán trên khi làm phương pháp 2 người ta còn gọi đó là phương pháp xét giá trị riêng. Cụ thể như bài này chúng ta đã xét giá trị riêng của đa thức tại x=-2 và x=2. Với phương pháp này chúng ta sẽ giúp học sinh tính toán dễ dàng hơn cũng như dễ tiếp thu hơn phương pháp 1. Tuy nhiên phương pháp này có một hạn chế đó là chúng ta chỉ sử dụng tốt khi đa thức chia có nghiệm cũng như học sinh phải biết phân tích đa thức thành nhân tử để tìm nghiệm của đa thức, nhưng cũng có những bài toán chúng ta không thể làm được theo phương pháp 1 và chúng ta chỉ làm được theo phương pháp 2. Để làm dõ điều này chúng ta cùng nghiên cứu ví dụ 3 như sau:

Ví dụ 3: Chứng minh rằng đa thức f(x) = (x2 + x – 1)10 + (x2 - x + 1)10 – 2 chia hết cho đa thức g(x) = x2 – x.

GIẢI

Ở bài này nếu chúng ta thực hiện theo phương pháp 1 thì gần như không thể bởi đa thức bị chia là một đa thức bậc cao nên việc thực hiện phép chia là vô cùng khó khăn do đó chúng ta chỉ hướng dẫn học sinh giải theo phương pháp 2 như sau:

Đa thức chia g(x) = x2 – x = x(x – 1) có 2 nghiệm là x = 0 và x = 1

Ta có f(0) = (-1)10 + 110 – 2 = 0 x = 0 là nghiệm của đa thức f(x) đa thức f(x) chứa thừa số x

Ta có: f(1) = (12 + 1 – 1)10 + (12 – 1 + 1)10 – 2 = 0 x = 1 là nghiệm của đa thức f(x), do đó đa thức f(x) chứa thừa số x – 1, mà các thừa số x và x – 1 không có nhân tử chung, do đó đa thức f(x) chia hết cho x(x – 1)

hay f(x) = (x2 + x – 1)10 + (x2 - x + 1)10 – 2 chia hết cho g(x) = x2 – x

Ví dụ 4: Tìm các hằng số a và b sao cho đa thức 2x3 + ax + b chia cho x+1 dư -6, chia cho x - 1 dư 20.

GIẢI

Vì đa thức f(x)= 2x3 + ax + b khi chia cho đa thức x+1 dư -6 nên theo định lý BEZOUT ta có: f(-1)=-6 f(-1)= 2.(-1)3+a.(-1)+b=-6 -a+b=-4 (1)

Vì đa thức f(x)= 2x3 + ax + b khi chia cho đa thức x-1 dư 21 nên theo định lý BEZOUT ta có: f(1)=21 f(1)= 2.(1)3+a.(1)+b=20 a+b=18 (2)

Cộng vế với vế của (1) và (2) cho nhau ta được: -a+b+a+b=-4+18

2b=14

b=7

Thay b=7 vào (1) ta được –a+7=-4 a=11

Vậy với a=11; b=7 thì đa thức 2x3 + ax + b chia cho x+1 dư -6, chia cho x - 1 dư 20.

Ví dụ 5: Tìm các hằng số a, b sao cho đa thức f(x)= x4- 3x3 – 3x2 + ax + b chia cho x2 + x – 2 thì được đa thức dư là 2x – 3.

Phương pháp 1: Sử dụng cách chia thông thường

*
*
x4- 3x3 – 3x2 + ax + b x2 + x – 2

*
x4+x3 – 2x2 x2- 4x+3

-4x3 – x2 + ax + b

-4x3 -4x2 +8x

3x2+(a-8)x +b

3x2+3x -6

(a-11)x+b+6

Theo phép chia thì sau phép chia ta thu được đa thức dư là: (a-11)x+b+6. Theo đề ra thì đa thức dư là 2x-3 nên: a-11=2 đồng thời b+6=-3 do đó a=13;

b=-9

Vậy với a=13; b=-9 thì đa thức f(x)= x4- 3x3 – 3x2 + ax + b chia cho đa thức x2 + x – 2 sẽ được đa thức dư là 2x – 3.

Phương pháp 2: Sử dụng định lý BEZOUT

Vì đa thức f(x)= x4- 3x3 – 3x2 + ax + b chia cho đa thức x2 + x – 2 thì được đa thức dư là 2x – 3 nên đa thức g(x)=f(x) –(2x-3) sẽ chia hết cho đa thức x2 + x – 2, hay g(x)=f(x) –(2x-3) = x4- 3x3 – 3x2 + ax + b-(2x-3) chia hết cho đa thức x2 + x – 2.

Vì x2 + x – 2= (x-1)(x+2) nên nếu gọi đa thức thương là Q(x) thì:

g(x)= f(x) –(2x-3) = x4- 3x3 – 3x2 + ax + b-(2x-3) = (x-1)(x+2).Q(x)

g(x)= x4- 3x3 – 3x2+ (a-2)x +b+3= (x-1)(x+2).Q(x)

- Tại x=1 thay vào ta được:

g(1)= 14- 3.13 – 3.12+ (a-2).1 +b+3= (1-1)(1+2).Q(1)

g(1)=1-3-3+a-2+b+3= 0.3. Q(1)

-4+a+b=0

a+b=4 (1)

- Tại x=-2 thay vào ta được:

g(-2)= (-2)4- 3.(-2)3 – 3.(-2)2+ (a-2).(-2) +b+3= (-2-1)(-2+2).Q(-2)

g(-2)= 16+24 -12 -2a+4+b+3= -3.0.Q(-2)

27-2a+b=0

-2a+b=-35 (2)

Trừ vế với vế của (1) và (2) cho nhau ta được -3a=-39 a=13

Thay a=13 vào (1) ta được 13+b=4 b=-9

Vậy với a=13; b=-9 thì đa thức f(x)= x4- 3x3 – 3x2 + ax + b chia cho đa thức x2 + x – 2 sẽ được đa thức dư là 2x – 3.

+ Ví dụ 6:

Đa thức f(x) có bậc là 3 khi chia cho x - 1 thì dư 2011 và khi chia cho x - 2 có dư là 2012. Tìm đa thức dư khi chia f(x) cho (x - 1)(x - 2)

GIẢI

Vì đa thức (x-1)(x-2) có bậc là 2 nên đa thức dư có dạng: r(x) = ax + b

Ta có f(x) = (x - 1)(x - 2)Q(x) + ax + b (*)

Vì f(x) khi chia cho x - 1 thì dư 2011 nên theo định lý BEZOUT thì f(1)=2011 thay vào (*) ta được f(1)=(1-1)(1-2)Q(1)+a.1+b= 2001 a+b=2011(1)

Vì f(x) khi chia cho x - 21 thì dư 2012 nên theo định lý BEZOUT thì f(2)=2012 thay vào (*) ta được f(2)=(12-1)(2-2)Q(2)+a.2+b= 2001

2a+b=2012 (2)

Trừ vế với vế của (2) cho (1) ta được a=1

Thay a=1 vào (1) ta được 1+b=2011 b=2010

Vậy đa thức dư trong phép chia f(x) cho (x - 1)(x - 2) là đa thức :

r(x) = x + 2010.

Bài tập tự luyện:

1. Tìm a, b, c biết:

1. x4 + ax3 + bx – 1 chia hết cho x2 – 9

2. 6x4 – 7x3 + ax2 + 3x + 2 chia hết cho x2 – x -12

3. x4 – 3x3 – 3x2 + ax + b chia hết cho x2 – 3x + 2

4. x4 + x3 – x2 + ax + b chia hết cho x2 + x – 6

5. ax4 + bx3 + 1 chia hết cho ( x – 1 )2

6. x3 + ax2 + 2x + b chia hết cho x2 4x + 3

7. x4 – x3 – ax2 + x + b ) chia cho x2 – 5x – 4 thì dư là 5x – 2

8. x5 + x4 – 9x3 + ax2 + bx + c chai hết cho ( x – 2 )( x + 2)( x + 3)

9. 2x4 + ax2 + bx + c chia hết cho x – 2 và khi chia cho x2 – 1 tthì dư x

2. Tìm đa thức dư trong phép chia sau:

1. x + x3 + x9 + x 27 + x81 + x243 cho x2 – 1

2. x100 + x99 + x98 + x97 + ... + x2 + x + 1 chia cho x2 – 1

3. x2 + x9 + x1996 chia cho x2 – 1

Nhận xét chung: Ở dạng toán này thực tế có nhiều phương pháp để giải như phương pháp sử dụng phép chia, phương pháp sử dụng định lý BEZOUT, phương pháp hệ số bất định...vv. Tuy nhiên không có một phương pháp nào là đa năng, vấn đề quan trọng nhất của người giáo viên là phải định hướng cho học sinh tìm và áp dụng các phương pháp sao cho phù hợp, hiệu quả. Đồng thời, thường ở các bài toán có tính chất phân loại học sinh khá, giỏi trong quá trình học và làm bài tập học sinh phải biết vận dụng linh hoạt phối hợp nhiều phương pháp với nhau một cách khoa học mới có thể giải quyết được bài toán một cách hợp lý, chính xác. Đối với phương pháp sử dụng định lý BEZOUT khi học sinh hiểu được sẽ thấy hứng thú học hơn, các em sẽ tự tìm tìm tòi các phương pháp giải toán hơn từ đó giúp các em học tốt hơn môn toán.

2.3. Những ưu, nhược điểm của giải pháp mới

2.3.1. Ưu điểm

- Nhanh chóng tìm được số dư của một đa thức cho một đa thức bậc nhất, một hằng số của đa thức bị chia khi biết đa thức chia và đa thức dư trong bài toán chia đa thức cho một nhị thức.

- Giải quyết bài toán nhanh gọn với những đa thức bậc cao.

- Thể hiện tính ưu việt so với phương pháp chia thông thường.

2.3.1. Nhược điểm

- Thời lượng phân bố tiết cho phần này còn hạn chế, cụ thể ở chương trình lớp 8 có 4 tiết ( 3 tiết lý thuyết, 1 tiết luyện tập). Do vậy chưa khai thác hết các bài tập về phép chia đa thức. Các em học sinh chưa được luyện tập nhiều ở dạng bài tập này.

- Khó tiếp cận đối với học sinh trung bình, yếu.

2.4. Đánh giá về sáng kiến được tạo ra

Sau một thời gian đưa ra tổ thảo luận, góp ý đồng thời đề tài của tôi đã được các đồng chí trong tổ trực tiếp áp dụng, thật vui mừng khi vào thời điểm này không khí giờ học toán đã thay đổi. Các em hăng say phát biểu, xây dựng bài nhiều hơn. Các em đã thi đua nhau học tập, học bài và làm bài tập, mặc dù kết quả học tập chưa được như mong muốn. Nhưng sự tự tin và niềm đam mê đã thể hiện rõ trong ánh mắt và việc làm của các em. Đồng thời các đồng chí trong tổ đã tiến hành cho các em làm lại bài khảo sát, với phần kiểm tra kiến thức được thay đổi phù hợp với kiến thức hiện tại đã học của các em.

Kết quả cụ thể như sau:

Lớp

Sĩ Số

Giỏi

Khá

TB

Yếu

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

8/5

42

11

26,2

14

33,3

15

35,7

2

4,8

8/6

44

12

27,3

14

31,8

16

36,4

2

4,5

Kết quả này chứng tỏ rằng: Việc vận dụng những kinh nghiệm nêu trên, trong thời gian chưa dài nhưng kết quả tương đối khả quan mặc dù kết quả chưa hoàn toàn như mong muốn của bản thân nhưng dù sao cũng cải thiện rất nhiều về chất lượng học tập, số học sinh khá giỏi tăng lên, số học sinh yếu kém được giảm đi. Đặc biệt là kiến thức của các em đã được khắc sâu hơn, các em có thể tự tin vận dụng kiến thức đã học vào giải toán. Tôi tin rằng tinh thần, thái độ học tập môn Toán của học sinh sẽ được duy trì và phát huy trong những môn học khác.

PHẦN KẾT LUẬN

Đứng trước bất kì một công việc cho dù khó khăn đến đâu, nhưng nếu chúng ta có niềm tin vào bản thân mình, chúng ta có sự đam mê thì hoàn toàn có thể vượt qua những trở ngại đó để đạt đến sự thành công. Vì vậy, xây dựng niềm tin trong học sinh và kích thích niềm đam mê học tập của các em cũng như xây dựng và hệ thống lại kiến thức cho học sinh là nhiệm vụ hết sức quan trọng của người giáo viên trong từng tiết dạy. Qua đề tài này, tôi rút ra cho bản thân một vài kinh nghiệm và đưa ra một số đề xuất như sau:

1. Bài học kinh nghiệm

Việc giáo viên hướng dẫn học sinh các phương pháp để giải toán còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kinh nghiệm, kỹ năng truyền đạt, khả năng tiếp thu kiến thức của từng học sinh … Khi giảng dạy đại số 8 và nghiên cứu nội dung chương trình đại số 8 tôi đã thường xuyên củng cố, khắc sâu kiến thức cho các em. Tuy nhiên kết quả đạt được chỉ ở mức khá do:

- Học sinh nhận thức chậm, nhiều em lười học.

- Nhiều em rỗng kiến thức từ dưới.

- Môn toán đòi hỏi ở khả năng phân tích và tư duy cao mà lứa tuổi các em những khả năng này còn nhiều hạn chế.

Từ những nguyên nhân trên người giáo viên cần:

- Thường xuyên trau rồi kiến thức, phương pháp dạy học để tạo được hứng thú học tập cho học sinh, tìm thêm nhiều phương pháp, cách giải mới và hay giúp các em học tập dễ dàng hơn, yêu thích môn học hơn.

- Cần quan tâm đến mọi học sinh trong lớp, có kế hoạch dạy bù những lỗ hổng kiến thức cho các em học sinh yếu kém, tạo cho các em niềm tin vững vàng và hứng thú khi học toán, tránh gây cho các em có cảm giác học toán là nặng nề và khô khan.

2. Kiến nghị, đề xuất

Để cho học sinh học tập có kết quả cao, tôi có một số ý kiến đề xuất sau:

- Giáo viên phải nghiên cứu sâu sắc rõ ràng về nội dung bài dạy,tích cực tìm tòi các phương pháp hay, kiến thức mới, tìm hiểu phân loại đối tượng học sinh để có kế hoạch giảng dạy thích hợp, từ đó dự kiến những việc cần hướng dẫn học sinh. Đặc biệt giáo viên phải nghiên cứu nắm vững nội dung sách giáo khoa, đưa ra phương pháp truyền thụ hiệu quả nhất, giáo viên phải thường xuyên rút kinh nghiệm qua mỗi bài giảng, xem xét bài nào chỗ nào học sinh hiểu nhanh, tốt nhất, chỗ nào chưa thành công để rút kinh nghiệm tìm phương pháp khác có hiệu quả hơn.

- Xây dựng nề nếp học tập cho học sinh có thói quen chuẩn bị sách vở đồ dùng học tập, nếu bài tập về nhà chưa giải được phải hỏi bạn và phải báo cáo với thầy cô trước khi vào lớp.

- Giáo viên hướng dẫn học sinh phương pháp học tập phát triển tư duy và rèn luyện kỹ năng.

Chắc chắn những kinh nghiệm tôi trình bày chỉ là một phần rất nhỏ trong vô số biện pháp nghiệp vụ sư phạm mà các đồng nghiệp đang áp dụng.


Bạn đang xem: Định lý bezout lớp 8


Xem thêm: Công Thức Tính Thể Tích Khối Cầu Bán Kính R, Cho Khối Cầu Có Bán Kính R =3

Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để cá nhân tôi ngày càng hoàn thiện hơn kĩ năng sư phạm của bản thân.